Nghi vấn "thông đồng" mua bán đất dự án An Phú-An Khánh của HDTC

11/10/2019 05:14

Trong năm 1998, Ông Trần Ngọc Phượng – Giám đốc Công Ty Phát Triển & Kinh Doanh Nhà (giai đoạn này nhà nước sở hữu 100% vốn) - gọi tắt là bên A, đã ký 4 hợp đồng bán đất nền cho bà Văn Bảo Ngọc (gọi tắt là bên B).

Nghi vấn "thông đồng" mua bán đất dự án An Phú-An Khánh của HDTC
Cụ thể, ngày 24/9/1998, Công ty Phát triển và kinh doanh nhà (bên A) và bà Văn Bảo Ngọc (bên B) đã thống nhất ký kết hợp đồng chuyển nhượng nền đất để xây dựng nhà theo Hợp đ ồng bán nhà trả tiền nền và hạ tầng số 32/HĐ-APAK và 33/HĐ-APAK.



Theo hợp đồng, bên A nhượng cho Bên B hai nền nhà trong khu Đô thị mới An Phú-An Khánh, vị trí nền số 14 và 15 đường Song Hành, Khu A, tổng diện tích khuôn viên mỗi nền là 150 m2 với giá trị hợp đồng mỗi hợp đồng là 367.500.000 đồng, với phương thức thanh toán mỗi hợp đồng được chia làm 3 đợt. Đợt 1: bên B thanh toán cho bên A số tiền là: 183.750.000 đồng, tương ứng với 50% giá trị Hợp đồng trong vòng 7 ngày sau khi ký hợp đồng; Đợt 2: Bên B thanh toán cho Bên A số tiền là: 110.250.000 đồng, tương ứng với 30% giá trị hợp đồng trong vòng 7 ngày kể từ khi Bên A sang nền; Đợt 3: Bên B thanh toán cho Bên A số tiền là: 73.500.000 đồng tương ứng với 20% giá trị hợp đồng còn lại trước khi Bên A giao nền và giấy phép xây dựng cho Bên B.

Đến ngày 20/10/1998, ông Trần Ngọc Phượng – giám đốc Công Ty Phát Triển & Kinh Doanh Nhà tiếp tục ký tiếp hai hợp đồng bán nhà trả tiền nền và hạ tầng số 153/HĐ-APAK và số 154/HĐ-APAK với nội dung hợp đồng thống nhất ký kết hợp đồng chuyển nhượng nền đất để xây dựng nhà, vị trí 61 và 62 đường Số 7, khu A khu Đô thị mới An Phú - An Khánh, tổng diện tích khuôn viên mỗi nền là 150 m2 với tổng giá trị mỗi hợp đồng là 322.500.000 đồng, cùng với phương thức thánh toán chia làm ba đợt.

Cụ thể, Đợt 1: Bên B thanh toán cho Bên A số tiền là: 161.250.000 đồng, tương ứng với 50% giá trị Hợp đồng trong vòng 7 ngày sau khi ký hợp đồng; Đợt 2: Bên B thanh toán cho Bên A số tiền là: 96.750.000 đồng, tương ứng với 30% giá trị hợp đồng trong vòng 7 ngày kể từ khi Bên A sang nền và đợt 3: Bên B thanh toán cho Bên A số tiền là: 64.500.000 đồng tương ứng với 20% giá trị hợp đồng còn lại trước khi Bên A giao nền và giấy phép xây dựng cho Bên B.

Mặc dù bên A và B đã ký hợp đồng bán và mua đất, nhưng cho đến ngày ngày 16/11/1998, Thủ tướng Chính phủ mới ban hành quyết định số 1042/QĐ – TTg phê duyệt dự án đầu tư hạ tầng cơ sở khu đô thị mới An Phú – An Khánh cho Công ty TNHH MTV Phát triển và Kinh doanh nhà (nay là công ty Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà - HDTC).

Sau đó, đến ngày 13/08/1999, Thủ Tướng Chính phủ mới ban hành quyết định số 783/QĐ-TTg giao đất cho Công ty Phát triển và Kinh doanh nhà để đầu tư hạ tầng cơ sở Khu đô thị An Phú – An Khánh, TP.HCM.

Như vậy, tại thời điểm năm 1998, ông Trần Ngọc Phượng – giám đốc Công ty Phát triển và Kinh doanh nhà ký 4 hợp đồng bán đất cho bà Ngọc, dự án khu đô thị mới An Phú – An Khánh chưa được Thủ tướng quyết định thành lập, chưa được Thủ tướng ký quyết định giao đất.

Hơn nữa, trên hợp đồng pháp nhân đứng tên là Văn Bảo Ngọc, người ký chính thức bên dưới mang tên Nguyễn Thị Hạnh, sao lại có sự nhùng nhằng về pháp nhân của hợp đồng này? Do đó, việc mua bán này là không có cơ sở, vì trên thực tế công ty chưa có dự án, chưa được giao đất nên không thể bán thứ mà mình không có cho khách hàng.

Hợp đồng Cty bán đất nền cho Văn Bảo Ngọc, tuy nhiên bên dưới người ký lại là Nguyễn Thị Hạnh?

 

Quyết định số 1042/QĐ-TTg ký ngày 16/11/1998
và Quyết định giao đất số 783/QĐ-TTg ký ngày 13/8/1999

Có thể nói hợp đồng ký ngày 20/10/1998 là cố ý làm sai. Chưa kể, hợp đồng do ông Trần Ngọc Phương ký là hợp đồng mua bán đất nền Bên B là Văn Bảo Ngọc, tuy nhiên bên dưới người ký lại là Nguyễn Thị Hạnh. Như vậy có sự thông đồng , có hay không việc cố ý làm sai giữa ông Trần Ngọc Phượng, bà Văn Bảo Ngọc và bà Nguyễn Thị Hạnh?

Liên quan đến vấn đề này, lãnh đạo Công ty HDTC cho biết đang gửi đơn đến Công an TP.HCM điều tra các sai phạm (nếu có) đối với Ban lãnh đạo ở thời điểm đó.

Đồng thời cũng gửi đơn đến các sở ban ngành của TP.HCM từ đây sẽ có hướng giải quyết cho các trường hợp còn tồn động tại Công ty Phát triển và Kinh doanh Nhà do Ban lãnh đạo gây ra trước thời điểm cổ phần hóa tháng 4/2016.

PV


;
Scroll